Giỏ hàng

Các mô hình xây dựng, thiết kế bài giảng E-Learning chất lượng (Phần 2)

HOTLINE:0966.81.81.83

Tiếp nối 2 mô hình ADDIE và mô hình 9 sự kiện hướng dẫn của Gagne đã được giới thiệu trong bài viết phần 1 của chủ đề này, phần 2 tiếp tục là 2 mô hình cũng không kém phần hiệu quả giúp cho tổ chức có thể xây dựng, thiết kế nên những nội dung đào tạo trực tuyến E-Learning chất lượng, thu hút. Đó là mô hình 5 nguyên tắc thiết kế của Merrill và mô hình phân loại Bloom



3. Mô hình 5 nguyên tắc hướng dẫn của Merrill (Merrill’s five principles of instruction)

Mô hình 5 nguyên tắc hướng dẫn của Merril được ra đời bởi nhà nghiên cứu giáo dục nổi tiếng M.David Merril. Từ nghiên cứu của mình, ông đã thiết lập 5 nguyên tắc cốt lõi trong việc thiết kế nội dung giảng dạy tập trung vào học tập dựa trên nhiệm vụ và vấn đề gặp phải, từ đó, người học trực tuyến có thể tích cực tham gia vào các nội dung đào tạo E-Learning. Tóm lại, các nguyên tắc của Merrill nhấn mạnh rằng trải nghiệm học tập của người học được thúc đẩy khi:

  1. Người học được tham gia vào việc giải quyết các vấn đề trong thực tế
  2. Kiến thức hiện có được kích hoạt làm nền tảng cho những kiến thức mới
  3. Kiến thức mới được trình diễn cụ thể đối với người học
  4. Kiến thức mới được người học ứng dụng
  5. Kiến thức mới được kết hợp với thế giới của người học

Nguyên tắc 1: Tập trung vào vấn đề (Problem-centred): Việc học tập được thúc đẩy khi người học được tham gia giải quyết các vấn đề trong thực tế.

Trong quá trình triển khai đào tạo trực tuyến, việc học tập của người học sẽ xuyên suốt và được tạo điều kiện thuận lợi khi họ được chỉ ra nhiệm vụ hoặc vấn đề mà họ có thể giải quyết khi hoàn thành một module hoặc một khóa học điện tử E-Learning. Ngoài ra, khi xây dựng, thiết kế nội dung bài giảng trực tuyến, người sản xuất nội dung cũng cần phân bổ, thiết lập các nhiệm vụ theo từng cấp độ, với mức hướng dẫn đối với người học giảm dần qua từng cấp độ, thông qua sự tiến triển, dần càng phức tạp của các vấn đề, kỹ năng của học viên cũng cùng với đó được cải thiện cho đến khi họ có thể tự mình giải quyết những vấn đề phức tạp mà không cần tới bất kỳ chỉ dẫn nào. Trong quá trình này, người học trực tuyến có thể phát triển sự hiểu biết sâu sắc hơn về vấn đề chính, đồng thời củng cố và luyện tập khả năng tư duy, sáng tạo và tự tin trong các cách tiếp cận khi đối diện với một vấn đề mới.

Nguyên tắc 2: Kích hoạt (Activation): Việc học tập được thúc đẩy khi kiến thức hiện có làm nền tảng cho những kiến thức mới.

Đối với nguyên tắc 2, người thiết kế bài giảng trực tuyến E-Learning cần xây dựng nội dung đào tạo tạo điều kiện cho học viên của mình có thể hồi tưởng, liên hệ và áp dụng những kiến thức, kinh nghiệm đã có làm bước đệm để tiếp thu những kiến thức, nội dung đào tạo mới. Nhiệm vụ đầu tiên của đội ngũ xây dựng bài giảng điện tử là cần xác định được đối tượng học, khả năng, kỹ năng của nhóm đối tượng mà bài giảng cung cấp hướng tới. Đối với người học đã có kinh nghiệm liên quan, giai đoạn đầu tiên của việc xây dựng nội dung là cần đảm bảo thông tin liên quan này sẽ được kích hoạt để làm nền tảng cho kiến thức mới của người học. Đối với người học chưa có đủ kinh nghiệm, thì giai đoạn đầu tiên là cần giúp họ thấy được các trải nghiệm về kiến thức mà họ có thể sử dụng làm nền tảng cho các kiến thức mới.

Trải nghiệm kích hoạt này không đơn thuần chỉ như một trải nghiệm nhớ lại, điều này có thể bị nhầm lẫn khi một số người thiết kế bài giảng E-Learning cố gắng lồng ghép quá nhiều các bài kiểm tra kiến thức đối với học viên. Điều người học quan tâm là khi một số nội dung đào tạo trực tuyến có liên quan tới các vấn đề họ từng giải quyết, họ sẽ coi đây là cơ hội để thể hiện mình, giúp cho chương trình đào tạo trực tuyến nhận được sự tham gia chủ động, đóng góp tích cực từ học viên.

Tìm hiểu thêm: Dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp cần xây dựng, thiết kế bài giảng E-Learning ngay lúc này.


Nguyên tắc 3: Trình bày, trình diễn (Demonstration): Việc học sẽ được thúc đẩy khi các kiến thức mới được trình diễn cụ thể đối với người học

Khi cung cấp, truyền tải nội dung đào tạo đến với học viên của mình, người sản xuất khóa học E-Learning cần kết hợp đa dạng các đa phương tiện, bối cảnh, tình huống giúp cho người học ngoài việc tiếp thu về khái niệm đó còn có thể hiểu rõ hơn về các cách tiếp cận và ứng dụng kiến thức. Trên thực tế, chúng ta có nhiều khả năng hiểu cách áp dụng một kiến thức hơn khi nội dung đó được trình bày cụ thể với các ví dụ hoặc tình huống trực quan thay vì chỉ đưa ra nội dung theo dạng tường thuật lại.

Ngoài ra, Một phương pháp hữu hiệu khác có thể đề cập tới là tạo ra những hình thức thiết kế bài giảng E-Learning cung cấp cho người học nhiều góc độ khái quát và trình bày ý tưởng trong quá trình học trực tuyến. Khi người học được hướng dẫn rõ ràng về cách để theo dõi, phân tích, đánh giá, so sánh dựa trên các quan điểm khác nhau, họ cũng sẽ học được cách điều chỉnh bản thân để cung cấp một góc nhìn đa chiều với mỗi vấn đề, tạo thuận lợi thúc đẩy hiệu quả công tác đào tạo E-Learning.

Nguyên tắc 4: Ứng dụng (Application): Việc học được thúc đẩy khi kiến thức mới được người học ứng dụng

Ứng dụng những kiến thức vào bối cảnh thực tế là một phần quan trọng của việc học tập hiệu quả. Để làm được điều này, người xây dựng, thiết kế nội dung đào tạo trực tuyến cần tạo ra những nội dung học tập giúp người học hóa thân vào các tình huống thực tế, mô phỏng và giảm dần những chỉ dẫn học tập qua từng cấp độ, cho phép người học thay đổi, hoàn thành các nhiệm vụ một cách độc lập. Đôi khi, học viên có thể mắc một số lỗi hoặc vấn đề khác, đây cũng là một điểm tích cực khi học tập E-Learning khi họ có thể rút ra những bài học, kinh nghiệm dựa trên những lỗi sai đó mà vẫn không phải chịu bất kì rủi ro, hậu quả nào.

Một vấn đề khác cũng cần được quan tâm đó chính là người thiết kế bài giảng cần bám theo những mục tiêu cốt lõi của chương trình đào tạo trực tuyến và mục tiêu của bài giảng E-Learning để xây dựng các loại hình thực hành phù hợp, tránh việc ứng dụng dàn trải hoặc phi thực tế, gây giảm sút hiệu quả trong công tác đào tạo.

Nguyên tắc 5: Tích hợp, kết hợp (Integration): Việc học tập được thúc đẩy khi kiến thức mới được kết hợp trong thế giới của người học

Mục tiêu chủ chốt của tất cả các chương trình đào tạo là giúp người học chuyển hóa nội dung đào tạo đó thành những kiến thức, kỹ năng được kết hợp vào cuộc sống thực tế của người học. Điều này có thể thấy được khi người học thể hiện hoặc chia sẻ các kiến thức, kỹ năng họ có cho người khác, phản ánh việc học và truyền đạt lại những hiểu biết của họ.

Một số nhà thiết kế nội dung đào tạo trong các tổ chức thường lầm hiểu những thành phần thể hiện bài giảng E-Learning như hoạt hình, đồ họa, âm thanh, đa phương tiện là yếu tố chính thúc đẩy động lực của người học. Dù có thể nói những thành phần này có ảnh hưởng tạm thời đến động lực đó, nhưng động lực thực sự đối với người học chính là sự hữu ích, giá trị mà kiến thức, kỹ năng họ đã được học đối với cuộc sống thực tế của họ, và trở thành động lực khiến người học luôn muốn cải thiện khả năng họ có.

Tìm hiểu thêm: Lợi ích của thuê ngoài giải pháp, dịch vụ E-Learning đối với doanh nghiệp


4. Mô hình phân loại Bloom

Thang cấp độ tư duy đầu tiên được xây dựng bởi Benjamin S. Bloom (1956), thường được gọi tắt là Thang Bloom hay Bảng phân loại Bloom (Bloom’s Taxonomy) bao gồm 6 cấp độ sau:

  1. Biết (Knowledge)
  2. Hiểu (Comprehension)
  3. Vận dụng (Application)
  4. Phân tích (Analysis)
  5. Tổng hợp (Systhesis)
  6. Đánh giá (Evaluation)

Nhận thấy thang phân loại trên chưa thực sự hoàn chỉnh, vào giữa thập niên 1990, Lorin Anderson, một học trò của Benjamin Bloom, đã cùng một số cộng sự đề xuất điều chỉnh như sau (Pohl, 2000):

  1. Nhớ (Remembering)
  2. Hiểu (Understanding)
  3. Vận dụng (Applying)
  4. Phân tích (Analyzing)
  5. Đánh giá (Evaluating)
  6. Sáng tạo (Creating)

Trên thực tế, mô hình cải tiến trong thang đo nhận thức Bloom đã khẳng định được ưu điểm khi khuyến khích và phát triển được các kỹ năng của học viên một cách hiệu quả. Hãy cùng DES tìm hiểu về các cấp độ nhận thức trong thang đo này:

1. Nhớ (Remembering)

Nhớ là khả năng ghi nhớ, nhận diện các thông tin đã có. Mức độ nhớ là có thể nhắc lại những thông tin được tiếp nhận trước đó. Trong quá trình thiết kế bài giảng điện tử, những nhà xây dựng nội dung có thể đưa hình thức quizz, test hoặc bài tập liệt kê, yêu cầu nhận diện, … để học viên có thể hồi ức lại kiến thức.

2. Hiểu (Understanding)

Hiểu là khả năng tiếp nhận, nắm được, chuyển hóa thông tin, kiến thức dựa trên khả năng tổng hợp, diễn giải, suy diễn và liên hệ. Người học ở cấp độ hiểu có thể truyền đạt lại một khái niệm, nội dung theo ý hiểu của chính bản thân họ.

Để đánh giá mức độ hiểu về nội dung đào tạo trực tuyến, người làm bài giảng cần đan xen những bài tập, câu hỏi hoặc hình thức khác kích thích người học trong việc diễn giải một vấn đề, phân biệt các khái niệm hoặc lấy ví dụ trực quan mô tả các khái niệm đó.

3. Vận dụng (Applying)

Vận dụng chính là khả năng chuyển hóa những kiến thức đã học được vào thực tế hoặc từ tình huống, bối cảnh này sang tình huống, bối cảnh khác. Để giúp công tác đào tạo trực tuyến hiệu quả hơn, người thiết kế bài giảng cần xây dựng các nội dung đào tạo giúp người học hóa thân vào các tình huống, bối cảnh cụ thể, điều này sẽ khuyến khích, yêu cầu học viên ra quyết định và đánh giá các quyết định đã đưa ra của mình.

Tìm hiểu thêm: Bài giảng điện tử E-Learning: Các cấp độ tương tác trong thiết kế nội dung

4. Phân tích (Analyzing)

Phân tích là khả năng nhận biết, nghiên cứu, xác định và phân biệt về bản chất, thành phần cấu thành của nội dung, sự vật hoặc bối cảnh, tình huống. Những nội dung đào tạo xây dựng ở cấp độ này cần đảm bảo một số nội dung yêu cầu, kích thích người học đưa các đối chiếu, so sánh, phân loại bản chất, tổ chức đối với một khái niệm, vấn đề, …


5. Đánh giá (Evaluating)

Đánh giá là quá trình hình thành các nhận định, phán đoán về các kết quả, dựa vào sự phân tích các thông tin thu được đối chiếu với các mục tiêu và tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định giúp cải thiện, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả của một hoạt động. Ở cấp độ này, người học có thể thực hiện những sự lập luận, đưa ra ý kiến, đóng góp các quan điểm trong quá trình trải nghiệm đào tạo trực tuyến.

6. Sáng tạo (Creating)

Sáng tạo là dựa trên những thông tin, dữ kiện, kinh nghiệm sẵn có xác lập ra các thông tin mới. Đối với công tác đào tạo, đây được coi là mức độ đáng kỳ vọng nhất, khi người học ngoài việc áp dụng những kiến thức, kỹ năng thu nạp được vào một tình huống đã được đào tạo, còn có thể vận dụng sáng tạo các kinh nghiệm đó cho một bối cảnh, tình huống khác. Ngoài ra, người học cũng có thể đề xuất những nội dung đào tạo mới có tính liên kết dựa trên cơ sở là những kỹ năng sẵn có của họ. Điều này góp phần tích cực thúc đẩy hoạt động trao đổi, tương tác qua lại trong quá trình tham gia đào tạo trực tuyến.

Tìm hiểu thêm: Tiêu chí lựa chọn nhà cung ứng giải pháp, dịch vụ E-Learning chất lượng



4 mô hình ADDIE, Mô hình 9 bước hướng dẫn của Gagne, Mô hình 5 nguyên tắc thiết kế của Merrill và mô hình phân loại Bloom được chúng tôi giới thiệu qua 2 bài viết hy vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi giúp tổ chức dễ dàng trong lựa chọn cho mình một mô hình phù hợp nhất trong phát triển nội dung đào tạo E-Learning.


Về phần mình, Công ty DES chúng tôi, với đội ngũ nhân viên có nhiều năm kinh nghiệm, luôn sẵn sàng trong việc tư vấn, triển khai về các lĩnh vực như:

Hy vọng rằng, thời gian tới, công ty TNHH Giải pháp và Dịch vụ Đào tạo trực tuyến DES sẽ có cơ hội đồng hành cùng doanh nghiệp của bạn để mang lại giá trị tốt nhất trong công tác đào tạo và phát triển nhân lực.

Liên hệ nhận tư vấn của chúng tôi theo thông tin:

Website: https://des.vn/pages/lien-he

Số điện thoại: 0966 818183

Email: contact@des.vn